KỲ I: NƠI CHIẾN HÀO NĂM XƯA MỌC LÊN NHỮNG “HẠT MẦM XANH"
Gần 40 năm trước - khi là “tọa độ lửa” của cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc, Thanh Thủy hôm nay đang hồi sinh trên chính vùng đất từng hứng chịu mưa bom, bão đạn. Giữa dòng người rời bản tìm việc, những đảng viên trẻ người dân tộc thiểu số vẫn chọn bám đất, giữ bản, dựng tương lai, trở thành những “mầm xanh” nơi biên cương.

Mặt trận Thanh Thủy năm 1984 - Ảnh Tư liệu
Gần bốn mươi năm trước, Thanh Thủy từng là một trong những “tọa độ lửa” trên tuyến biên giới phía Bắc. Những triền núi, bản làng nơi đây từng hứng chịu đạn, pháo; những chiến hào, trận địa pháo, hố mìn và dấu tích chiến tranh in hằn trên từng vạt đất, trên từng vách đá.
Từ tháng 4/1984, mặt trận Vị Xuyên - Thanh Thủy bước vào giai đoạn chiến đấu đặc biệt ác liệt. Hàng vạn quả đạn pháo dội xuống các điểm cao 1509, 772, 685… Suốt những năm chiến đấu, hơn 1,8 triệu quả đạn pháo được bắn vào mặt trận; hơn 4.000 cán bộ, chiến sĩ và đồng bào đã hy sinh, hàng nghìn người bị thương. Bom đạn cũng cày xới đất đai, để lại một vùng biên với những hố bom, vật nổ và nhiều dấu tích. Nhưng chiến tranh không chỉ để lại những hố bom trên mặt đất. Nó còn để lại những khoảng trống cần nhiều năm tháng để lấp đầy: những gia đình ly tán, những bản làng phải sơ tán, những vùng đất sản xuất bị chia cắt và một cuộc sống sau chiến tranh bắt đầu lại từ gần như con số không.
Ông Bồn Văn Bàn, thôn Nậm Ngặt, xã Thanh Thủy vẫn nhớ những ngày tháng ấy:
“Chúng bắn suốt một ngày trời, đến tối ngừng bắn. Thanh niên thì ở lại ít ngày giúp bộ đội chuyển đạn, vác bêtông lên xây lô cốt chống giặc. Còn lại nhận lệnh, người dân Nậm Ngặt bỏ nhà, bỏ trâu, bỏ cả nương lúa sắp vào vụ gặt để đi sơ tán. Sau này chiến tranh biên giới kết thúc, nhiều người dân đã trở lại quê hương sinh sống và làm ăn cho đến nay”.
Chiến tranh đi qua, nhưng hành trình hồi sinh của vùng biên không thể diễn ra trong một sớm một chiều. Cơ sở hạ tầng yếu kém, giao thông cách trở; sản xuất chủ yếu dựa vào nông nghiệp tự cung tự cấp. Ở nhiều bản làng, việc tiếp cận giáo dục, y tế, thông tin còn hạn chế. Địa hình bị chia cắt, bom mìn, vật nổ còn sót lại sau chiến tranh tiếp tục ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất của người dân.
Ngay tại Nậm Ngặt - một trong những khu vực từng chịu ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh, gần 100% diện tích đất tự nhiên của thôn từng bị ô nhiễm đận pháo, mìn. Sau nhiều năm rà phá, khoảng 98% diện tích đất đã được làm sạch. Đất sạch đến đâu, cuộc sống hồi sinh đến đó.
Những con đường mới mở, những nương lúa, vạt chè và những ngôi nhà mới hôm nay là minh chứng cho sức sống bền bỉ của người dân nơi đây. Nhưng để vùng đất từng là chiến trường có thể phát triển ổn định, điều cần được khôi phục không chỉ là hạ tầng, đất sản xuất hay sinh kế. Quan trọng hơn, đó là sức mạnh của hệ thống chính trị ngay từ từng bản làng.
Bởi ở một địa bàn biên giới, chủ trương, chính sách muốn đi vào cuộc sống phải được chuyển tải bằng những con người cụ thể; những người hiểu địa bàn, hiểu phong tục, nói được tiếng của đồng bào, biết việc của bản và quan trọng hơn là được Nhân dân tin tưởng.
Đó cũng là một trong những bài toán đặt ra với Thanh Thủy sau chiến tranh.
KHI “HẠT GIỐNG” PHÁT TRIỂN ĐẢNG KHÔNG DỄ TÌM
Những năm tháng bình yên mở ra cơ hội để người dân trở lại quê hương, dựng lại nhà cửa, khôi phục sản xuất. Nhưng cùng với quá trình phát triển, một vấn đề mới dần hiện hữu: lớp trẻ lực lượng kế cận của các tổ chức Đảng ở cơ sở ngày càng khó tìm.
Trong xu thế phát triển nhanh của xã hội, nhu cầu việc làm ngày càng lớn, một bộ phận thanh niên vùng biên rời bản làng để tìm kiếm cơ hội mưu sinh. Với họ, đó là lựa chọn để cải thiện cuộc sống. Nhưng với tổ chức Đảng ở cơ sở, dòng dịch chuyển ấy lại khiến nguồn phát triển đảng viên trẻ vốn đã mỏng càng trở nên khó khăn hơn.
Phó Bí thư Chi bộ, Trưởng thôn Giang Nam Nông Đình Chiến chia sẻ:
“Khó nhất là nguồn trẻ. Thanh niên trong thôn có người đi làm xa, người thì chỉ ở nhà một thời gian rồi lại đi. Có những năm chúng tôi rà soát nhưng không tìm được quần chúng thật sự đủ điều kiện, có ý thức phấn đấu để giới thiệu cho Đảng. Có những thời điểm vài năm liền không kết nạp được người mới. Chi bộ vẫn duy trì sinh hoạt, vẫn thực hiện nhiệm vụ, nhưng chúng tôi rất lo về lớp kế cận. Nếu không chủ động tạo nguồn từ sớm thì sau này sẽ rất khó”.
Theo Bí thư Đảng ủy xã Thanh Thủy Phùng Viết Vinh, đây là khó khăn mang tính đặc thù của địa bàn. Ở một số thôn, bản, việc tìm nguồn kết nạp gặp nhiều trở ngại do thanh niên đi làm ăn xa, trình độ học vấn của một bộ phận đồng bào còn hạn chế, một số phong tục, tập quán ảnh hưởng đến quá trình phấn đấu; trong khi nhiều gia đình vẫn phải ưu tiên lo sinh kế trước mắt.
Như vậy, bài toán đặt ra không đơn thuần là kết nạp thêm bao nhiêu đảng viên, mà sâu xa hơn là làm thế nào để ở mỗi bản làng luôn có những người trẻ đủ năng lực, uy tín và trách nhiệm để tiếp nối công việc của các thế hệ đi trước.
Với một vùng biên giới, yêu cầu ấy càng trở nên rõ ràng. Những người trực tiếp sống cùng đồng bào, hiểu phong tục, nắm tình hình bản làng, có khả năng tập hợp Nhân dân chính là những “cầu nối” gần nhất để chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước được triển khai đến từng hộ dân.
Vì thế, tạo nguồn đảng viên trẻ ở Thanh Thủy không chỉ là công việc xây dựng tổ chức Đảng, mà còn là một phần quan trọng trong việc củng cố sức mạnh của hệ thống chính trị ở cơ sở, giữ vững ổn định nơi phên dậu Tổ quốc.
“ƯƠM MẦM” TỪ CHÍNH BẢN LÀNG
Không thể chờ những “hạt giống” tự tìm đến tổ chức Đảng. Từ thực tế đó, cách làm ở Thanh Thủy từng bước thay đổi: nguồn phát triển Đảng được tìm ngay trong đời sống của đồng bào.
Đó có thể là những đoàn viên, thanh niên có ý chí vươn lên; những người làm kinh tế giỏi; cán bộ đoàn năng nổ; lực lượng dân quân; thành viên các tổ tự quản; những người có uy tín, có khả năng tập hợp quần chúng. Đó cũng là những quân nhân hoàn thành nghĩa vụ trở về địa phương - những người đã được rèn luyện trong môi trường quân ngũ, có ý thức tổ chức và kỷ luật.
Từ cách nghĩ ấy, công tác tạo nguồn không còn chờ đến khi cần mới rà soát. Cấp ủy, chi bộ và các tổ chức đoàn thể cùng quan tâm phát hiện nhân tố tích cực; lựa chọn những quần chúng có phẩm chất tốt, có uy tín, tinh thần trách nhiệm và khát vọng vươn lên để bồi dưỡng. Những quần chúng ưu tú được phân công đảng viên chính thức theo dõi, giúp đỡ, tạo điều kiện để rèn luyện qua thực tiễn.
Cách làm ấy cũng mở rộng không gian để phát hiện nguồn. Một thanh niên có thể được nhận diện từ phong trào Đoàn; một người trẻ có năng lực có thể được phát hiện qua mô hình kinh tế; một quân nhân xuất ngũ có thể trở thành nguồn từ chính quá trình rèn luyện trong quân đội; một học sinh có thành tích tốt, tích cực trong hoạt động tập thể có thể được định hướng, bồi dưỡng ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.
Là người con dân tộc Dao, sinh ra và lớn lên tại Thanh Thủy, anh Đặng Văn Dàu từng là một đoàn viên năng nổ trong các hoạt động cộng đồng. Thay vì đi làm kinh tế xa nhà, anh lựa chọn phát huy lợi thế du lịch quê hương, trở thành người dẫn tour, đưa du khách khám phá cảnh sắc, tìm hiểu văn hóa bản địa. Khi được kết nạp vào Đảng, anh càng ý thức rõ trách nhiệm của người trẻ trong việc quảng bá vẻ đẹp quê hương, đưa những giá trị văn hóa của đồng bào Dao đến với bạn bè trong và ngoài nước.
“Chính mảnh đất giàu truyền thống ấy đã nuôi dưỡng trong tôi tình yêu quê hương và ý thức trách nhiệm của người trẻ. Tôi chọn ở lại không chỉ vì gia đình, mà còn mong muốn góp sức xây dựng quê hương – nơi mình sinh ra, lớn lên và mang trong mình những câu chuyện lịch sử thiêng liêng. Với tôi, được sống, lao động, lập nghiệp và cống hiến trên chính quê hương là niềm tự hào, đồng thời cũng là trách nhiệm của tuổi trẻ hôm nay” anh Đặng Văn Dàu chia sẻ.

Đảng viên Đặng Văn Dàu là một thanh niên năng nổ trong các hoạt động cộng đồng (người đang giới thiệu cột mốc biên giới Việt – Trung)
“Hạt giống” cũng được tìm thấy ngay trong môi trường học đường. Em Nguyễn Kim Liên, dân tộc Tày, lớp trưởng lớp 12A3, Trường THPT Phương Tiến, xã Thanh Thủy là một trong những quần chúng ưu tú được lựa chọn tham gia lớp bồi dưỡng nhận thức về Đảng. Không chỉ có thành tích trong học tập, Liên còn tích cực tham gia các phong trào của nhà trường, có tinh thần trách nhiệm với tập thể.

Em Nguyễn Kim Liên đang triển khai cuộc họp của lớp12a3,Trường THPT Phương Tiến, xã Thanh Thủy.
Với cô học sinh vừa tròn 18 tuổi, việc được giới thiệu vào nguồn phát triển Đảng không chỉ là một sự ghi nhận, mà còn mở ra một hành trình rèn luyện mới.
“Nếu được vinh dự kết nạp Đảng, em mong muốn đóng góp bằng sự nhiệt huyết, trách nhiệm và những việc làm thiết thực. Em sẽ tích cực tham gia hoạt động tình nguyện, bảo vệ môi trường, giúp đỡ cộng đồng và tuyên truyền những giá trị tốt đẹp, góp phần xây dựng quê hương Thanh Thủy ngày càng văn minh, giàu đẹp”.
Bí thư Đảng ủy xã Thanh Thủy Phùng Viết Vinh cho biết, để tháo gỡ khó khăn, Đảng ủy xã qua các thời kỳ đã triển khai nhiều giải pháp nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên. Cán bộ, đảng viên được phân công phụ trách các thôn, chi bộ để hỗ trợ công tác xây dựng Đảng, phát hiện và bồi dưỡng nhân tố tích cực. Các đoàn thể xây dựng mô hình kinh tế để qua đó phát hiện quần chúng ưu tú; đồng thời rà soát, vận động quân nhân hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về địa phương trở thành nguồn phát triển đảng viên trẻ.
Điều đáng chú ý ở đây là nguồn không còn được nhìn như một danh sách cần bổ sung, mà được nhìn như những con người cần được phát hiện và nuôi dưỡng trong chính đời sống cộng đồng.
TỪ “VÙNG TRŨNG” ĐẾN NHỮNG LỚP KẾ CẬN
Sự thay đổi trong cách làm từng bước tạo nên những chuyển biến trong công tác xây dựng Đảng ở Thanh Thủy. Đảng bộ xã hiện có 16 tổ chức đảng với 572 đảng viên. Riêng 7 chi bộ thôn, bản có 329 đảng viên, phần lớn là người dân tộc thiểu số. Đến nay, 100% thôn, bản có chi bộ độc lập, không còn tình trạng “trắng” đảng viên hay sinh hoạt ghép. Đội ngũ đảng viên dân tộc thiểu số, đảng viên trẻ, nữ và cán bộ cơ sở từng bước được trẻ hóa, nâng cao chất lượng.
Đằng sau những con số ấy là một quá trình không ngắn: từ việc nhận diện khó khăn, thay đổi cách nghĩ về tạo nguồn đến kiên trì phát hiện, bồi dưỡng từng con người cụ thể.
Ở một vùng đất từng phải bắt đầu lại từ những đổ nát của chiến tranh, xây dựng một lớp cán bộ, đảng viên trẻ cũng giống như gieo những mầm cây mới trên đất cũ. Muốn cây lớn, trước hết phải tìm được hạt giống phù hợp; rồi phải gieo xuống đúng đất, chăm sóc đủ lâu và tạo điều kiện để nó bén rễ.
Những chiến hào năm xưa giờ đã phủ màu thời gian. Những điểm cao 1509, 1100, 772, 685, Đồi Đài, Đồi Cô Ích - nơi từng ghi dấu những trận chiến khốc liệt hôm nay đã mang trên mình màu xanh của núi rừng và sự sống. Nhưng để màu xanh ấy bền vững, vùng biên cần nhiều hơn những công trình mới. Cần những con người trẻ sẵn sàng ở lại, gắn bó với bản làng; những người hiểu đồng bào và được đồng bào tin tưởng; những người có thể tiếp nối công việc của thế hệ đi trước.
Và từ chính nhu cầu ấy, những “hạt mầm xanh” đang được tìm thấy.
Không phải ở đâu xa.
Mà từ những đoàn viên, thanh niên trong bản; từ người lính trở về; từ những người trẻ đang gây dựng sinh kế trên quê hương; từ những cán bộ phong trào, những người có uy tín trong cộng đồng; và cả từ những học sinh đang bắt đầu hình thành lý tưởng, trách nhiệm với quê hương.
Những hạt giống ấy đã được gieo xuống.
Còn khi đã bén rễ, sẽ tạo nên những đổi thay gì cho bản làng vùng biên?
Câu chuyện ấy sẽ được tiếp tục ở kỳ II.
Tác giả: Ma Quang Hiếu - Ma Anh Dũng - Phạm Hoài Nam
Kỳ tiếp theo: KHI NHỮNG “HẠT MẦM XANH” TRỞ THÀNH ĐIỂM TỰA CỦA BẢN LÀNG