Sở đã quán triệt, triển khai nghiêm túc các văn bản chỉ đạo của Bộ Dân tộc và Tôn giáo, trọng tâm là Quyết định số 678/QĐ-BDTTG ngày 02/8/2026 quy định phân công trách nhiệm thu thập, tạo lập và cập nhật Cơ sở dữ liệu về dân tộc; Công văn số 2697/BDTTG-CS ngày 27/8/2026 về hướng dẫn nghiệp vụ (phiên bản 1.0) và Công văn số 2899/BDTTG-TGCP ngày 17/9/2026 về đôn đốc nhập liệu Cơ sở dữ liệu về tôn giáo.

Đồng thời, Sở phối hợp với UBND các huyện, thành phố và các xã, phường, thị trấn tổ chức hướng dẫn khai thác, vận hành Nền tảng thu thập dữ liệu chuyên ngành tại địa chỉ https://dldt.bdttg.gov.vn; phân công rõ trách nhiệm của cán bộ tạo lập, kiểm tra và lãnh đạo phê duyệt dữ liệu. Quá trình thực hiện chú trọng chuẩn hóa thông tin theo tiêu chí “đúng, đủ, sạch, sống”, lấy Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư làm gốc, bảo đảm an toàn, bảo mật thông tin và an ninh mạng.
Đối với dữ liệu Người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, tính đến ngày 15/10/2026, toàn tỉnh đã hoàn thành 90% khối lượng tạo lập, cập nhật trên tổng số đối tượng quản lý. Các thông tin về hồ sơ cá nhân, biến động nhân sự và thụ hưởng chế độ, chính sách theo Nghị định số 307/2026/NĐ-CP của Chính phủ được rà soát, kiểm tra, cập nhật trên hệ thống.
Đối với cơ sở dữ liệu tôn giáo, thực hiện Công văn số 1595/SDTTG-TG ngày 23/9/2026 của Sở về việc đôn đốc nhập liệu CSDL về tôn giáo, các địa phương đã tích cực triển khai, đạt tỷ lệ nhập liệu 86,8% tính đến ngày 20/10/2026. Kết quả này vượt chỉ tiêu tối thiểu 80% theo tiến độ Bộ Dân tộc và Tôn giáo giao đến ngày 30/10/2026, góp phần nâng cao thứ hạng của tỉnh trong triển khai cơ sở dữ liệu chuyên ngành.
Thời gian tới, Sở Dân tộc và Tôn giáo tiếp tục đôn đốc các địa phương rà soát, hoàn thiện 10% dữ liệu Người có uy tín còn lại; phấn đấu hoàn thành 100% cơ sở dữ liệu tôn giáo trước ngày 15/11/2026, sớm hơn thời hạn Bộ giao là ngày 30/11/2026. Đồng thời, đẩy nhanh tiến độ tạo lập các hạng mục dữ liệu chuyên ngành khác như phân định vùng dân tộc thiểu số và miền núi, học sinh, sinh viên tiêu biểu, chính sách dân tộc; tăng cường kiểm tra chất lượng, cập nhật thường xuyên khi có biến động và phối hợp với Ban Tôn giáo Chính phủ, Trung tâm Chuyển đổi số thuộc Bộ Dân tộc và Tôn giáo kịp thời tháo gỡ khó khăn về tài khoản, đường truyền, hạ tầng kỹ thuật.
Những kết quả đạt được thể hiện tinh thần chủ động, quyết tâm của Sở và sự phối hợp của các địa phương, tạo nền tảng quan trọng thúc đẩy chuyển đổi số, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về dân tộc, tôn giáo trên địa bàn tỉnh.
Thực hiện: Văn phòng Sở